Vườn Ê đen mới
HAI GIA TỘC, HAI LỐI SỐNG, HAI ĐỊNH MỆNH | MSTS Christian Le

Thống Kê sau 200 năm của 2 gia tộc:
Có hai gia tộc cùng thời, gia tộc của Jonathan Edwards là gia tộc kính sợ Chúa, tin nơi Chúa, Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá của mình. Ông là mục sư, nhà truyền đạo thanh giáo, nhà phục hưng, nhà triết gia, nhà thần học nổi tiếng vào những năm 1700. Được biết, ông là một trong những nhà truyền đạo được kính trọng nhất vào thế hệ của ông. Ông theo học tại Đại học danh tiếng Yale University lúc được 13 tuổi và sau đó ông trở thành hiệu trưởng trường Đại học Princeton University. Ông kết hôn với vợ mình là Sarah vào năm 1727 và họ được Chúa ban cho 11 người con. Mỗi buổi tối khi ông Edwards ở nhà, ông dành một giờ để trò chuyện với gia đình và sau đó ông cầu nguyện xin Chúa ban phước lành cho từng đứa con của mình. Jonathan và vợ ông là Sara đã truyền lại một di sản tâm linh vĩ đại và thiêng liêng cho mười một người con của mình.
Một nhà giáo dục người Mỹ A.E. Winship quyết định nghiên cứu, truy tìm hậu duệ của Jonathan Edwards gần 150 năm sau khi ông qua đời. Những phát hiện của ông rất đáng chú ý, đặc biệt khi so sánh với một người đàn ông khác cùng thời được biết đến với cái tên Max Jukes. Gia tộc Max Jukes nổi danh là vô thần, chống Chúa, và những giá trị tâm linh. Hơn nữa Max Yukes đã từng nói với Jonathan Edwards rằng: “Ông tin nơi Chúa Giê-su, còn tôi thì vĩnh viễn không bao giờ tin!”
A.E. Winship đã thống kê hoàn cảnh của gia tộc Jonathan Edwards và cũng thống kê hoàn cảnh của gia tộc Max Jukes sau 200 năm, kết quả cụ thể như sau:
1. Gia tộc và Di sản JONATHAN EDWARDS
Di sản của Jonathan Edwards bao gồm: 1 Phó Tổng thống Hoa Kỳ, 1 trưởng khoa trường đại học luật, 1 trưởng khoa trường đại học y, 3 thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, 3 thống đốc, 3 thị trưởng, 13 hội trưởng trường đại học, 30 thẩm phán, 60 bác sĩ, 60 tác giả, 65 giáo sư đại học, 75 sĩ quan quân đội, 80 quan chức nhà nước, 100 luật sư, 100 mục sư và 285 sinh viên tốt nghiệp đại học.
Làm thế nào điều này có thể được giải thích? Thật ra, Jonathan Edwards là một người tin kính Chúa nhưng ông cũng chăm chỉ học hành và siêng năng làm việc khi còn thanh niên. Ông là một trong những người thông thái nhất và có đạo đức tốt trong thế hệ của mình. Hơn nữa, Winship tuyên bố, “Phần lớn năng lực và tài năng, cường độ và tính cách của hơn 1.400 người trong gia đình Jonathan Edwards là cũng nhờ bà Sarah Pierpont Edwards.” Bà Sarah Edwards có lòng sùng kính sâu sắc đối với Chúa của mình, bà còn có khả năng quản lý gia đình với mười một người con, tất cả đều sống đến tuổi trưởng thánh. Bà luôn hỗ trợ công việc truyền giáo đầy bận rộn của chồng mình trong thời kỳ Đại Thức tỉnh (The Great Awakening). Bà là con gái của Mục sư James Pierpont, một trong những người sáng lập Đại học nổi tiếng Yale University.
2. Gia tộc và Di sản MAX JUKES
Di sản của Max Jukes được mọi người chú ý khi gia tộc của 42 người đàn ông khác nhau trong hệ thống nhà tù ở New York được truy tìm về ông ta. Ông sống ở New York cùng thời với Edwards. Gia đình Jukes ban đầu được nghiên cứu bởi nhà xã hội học Richard L. Dugdale vào năm 1877.
Con cháu của Jukes bao gồm: 7 kẻ giết người, 60 tên trộm, 190 gái mại dâm, 150 kẻ bị kết án khác, 310 người khốn khổ cùng cực và 440 người nghiện rượu. Trong số 1.200 con cháu được nghiên cứu, có 300 người chết yểu. Rất nhiều người đều cảm thấy khó hiểu, trải qua 200 năm tại sao kết quả lại có một sự khác biệt như vậy. Nguyên nhân căn bản là vì gia tộc ông Jonathan Edwards có được sức mạnh từ niềm tin – tin nơi Chúa, Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa của mình.
Sau tín ngưỡng, Sarah và Jonathan Edwards, hai vợ chồng kính sợ Chúa này đã gieo được hai hạt giống thật quan trọng:
–HẠT GIỐNG THỨ NHẤT là hướng thiện và sống yêu thương, “Kính Chúa Yêu Người.” Cho nên gia tộc ông mới có nhiều bác sĩ, giáo sư, luật sư, và viện trưởng yêu kính Chúa vv.
–HẠT GIỐNG THỨ HAI là lòng kính sợ Chúa. Cho nên những đứa con sinh ra trong gia đình này luôn ghi nhớ rằng luôn có Giavê, Đức Chúa Trời trong đời sống mình, kính Chúa yêu người. Không biết bạn có chú ý đến không, tại sao gia tộc Max Jukes lại có nhiều kẻ lưu manh, phạm pháp, trộm cướp và nhiều gái mại dâm như thế? Cũng vì gia tộc này không dạy cho con cháu mình biết kính sợ Chúa. Nên trong nội tâm của họ là: Ông trời là gì chứ, ta mới là lớn nhất, không có điều gì mà ta không dám làm hoặc Đức Chúa Trời không tồn tại vv.
Di sản tương phản này cho chúng ta một ví dụ về cái mà một số người gọi là quy tắc năm thế hệ. “Cách cha mẹ nuôi dạy con cái mình – tình yêu họ ban cho, những giá trị họ dạy dỗ, môi trường cảm xúc mà họ mang lại, nền giáo dục mà họ cung cấp – không chỉ ảnh hưởng đến con cái dòng dõi họ mà còn ảnh hưởng đến bốn thế hệ tiếp theo, dù tốt hay xấu.” Đây thật là một suy nghĩ sâu sắc đầy thách thức cho chúng ta!
Nếu ai đó nghiên cứu con cháu, hậu duệ của bạn bốn thế hệ sau, bạn muốn họ khám phá điều gì? Bạn muốn có được di sản của Edwards hay di sản của Jukes? Cuộc đời bạn sống hiện giờ sẽ quyết định di sản bạn để lại sau khi bạn nhắm mắt tắt hơi lìa đời này!
Thật vậy, “Kính sợ Chúa là chìa khóa để bước vào sự hiện diện thánh của Chúa, Đức Chúa Trời thánh khiết và nhận được những phước lành từ Ngài.”
Khi con người có ý thức và chấp nhận hiện thực này thì ấy là chìa khóa để đạt được sự khôn ngoan và tri thức từ Ngài. Lời Chúa trong Thánh kinh dạy bảo con người rằng: “Kính sợ Chúa là khởi đầu sự khôn ngoan và tri thức. Hiểu biết Đấng Thánh là sự sáng suốt” (Châm 9:10; 1:7). Khi chúng ta thực sự kính sợ Chúa thì chúng ta sẽ ghét điều ác, ghét tội ác, ghét điều bất chính, ghét tội lỗi. Chúa rất ghét những người có tính kiêu ngạo, tự cao, tự đại, và đường lối ác và miệng gian tà (Châm 8:13). Nhưng Chúa lại thương xót những người kính sợ Ngài từ thế hệ này qua thế hệ kia (Lu 1:50). Chúa bày tỏ tình thương đến ngàn đời cho những ai yêu kính Ngài và vâng giữ các điều răn Ngài (Xuất 20:6).
Chúng ta phải ý thức rằng Chúa, Đức Chúa Trời chúng ta là Đức Chúa Trời độc nhất vô nhị: Chúa là Đức Chúa Trời thành tín, giữ giao ước và tình yêu thương của Ngài đến cả ngàn thế hệ cho người nào kính yêu Ngài và vâng theo mạng lệnh Ngài (Phục 7:9). Tình yêu thương của Chúa Giavê hằng còn đời đời cho những người kính sợ Ngài; Và sự công chính của Ngài cho con cháu họ là những người gìn giữ giao ước Ngài và ghi nhớ tuân theo các mạng lệnh Ngài (Thi 103:17-18).
Thiên sứ của Chúa tuyên bố và kêu gọi loài người: “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và tôn vinh Ngài vì đã đến giờ Ngài phán xét. Hãy thờ phụng Đấng sáng tạo trời, đất, biển và các nguồn nước” (Khải 14:7). Chúa Giê-su dạy bảo chúng ta đừng sợ người mà phải sợ trời, sợ Chúa Trời vì Ngài là Đấng có thể hủy diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục. Chúa Giê-su phán: “Đừng sợ những kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn, nhưng thà sợ Đấng có thể hủy diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mathiơ 10:28).
Ngày xưa Chúa Giê-su phán dạy dân tộc Do thái: “Điều răn quan trọng nhất và lớn nhất là, ‘Hỡi I-sơ-ra-ên, hãy lắng nghe, Chúa, Đức Chúa Trời chúng ta là Chúa duy nhất (có một không hai). Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết lý trí, hết sức mạnh mà yêu kính Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.’ Điều thứ hai là: ‘Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình.’ Không có điều răn nào lớn hơn hai điều răn nầy” (Mác 12:29-31).
Yêu kính Chúa, Đức Chúa Trời là điều quan trọng nhất mà Chúa đòi hỏi loài người chúng ta. Bản chất của mọi điều Chúa đã phán chỉ đơn giản là yêu kính Ngài. Đây đã, đang và sẽ tiếp tục là vấn đề trọng tâm của đời sống của những người kính sợ và yêu mến Chúa. Ngoài việc yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí, và hết sức lực, Chúa còn mong muốn chúng ta yêu người khác như yêu chính mình. Chúa Giê-su đang nói rằng tất cả các điều răn của Đức Chúa Trời có thể được tóm tắt trong khái niệm yêu Chúa và yêu người. Theo Chúa Giê-su, hai điều răn này tóm tắt tất cả luật pháp của Đức Chúa Trời. Cho nên, hãy để chúng chi phối – kiểm soát mọi suy nghĩ, thái độ, quyết định, và hành động của chúng ta.
Có lần Edwards nói lên niềm tin lớn của mình nơi Chúa, Đức Chúa Trời mà ông tin: “Những Cơ đốc nhân thật là những người được Đức Chúa Trời chọn từ trước vô cùng, không chỉ là trước khi họ được sinh ra đời nhưng trước khi thế gian được dựng nên. Một Cơ đốc nhân chân chính và trung tín không coi việc sống thánh khiết là điều ngẫu nhiên. Đó là mối quan tâm lớn của người ấy. Như công việc của người lính hoặc dũng sĩ là chiến đấu, công việc của Cơ đốc nhân là trở nên giống Đấng Christ trong lối sống của mình.”
Ông còn nói: “Chúa là điều tốt đẹp nhất. Tận hưởng Chúa là quyền lợi của chúng ta và là niềm hạnh phúc duy nhất mà tâm hồn chúng ta có thể hài lòng. Được lên thiên đàng, được tận hưởng trọn vẹn Chúa, còn tuyệt vời hơn nhiều so với chỗ ở dễ chịu nhất ở trần thế này, tốt hơn cha mẹ, chồng, vợ, con cái, hay bè bạn với bất cứ hoặc tất cả bạn bè trần thế. Đây chỉ là những cái bóng nhưng sự tận hưởng Giavê, Đức Chúa Trời mới là bản chất. Đây chỉ là những chùm tia rải rác nhưng Chúa là mặt trời. Đây chỉ là những dòng suối nhưng Đức Chúa Trời là nguồn suối. Đây chỉ là những giọt nước nhưng Chúa là đại dương.”
Do đó kết quả hoặc định mệnh của hai gia tộc sau 200 năm, đã cho chúng ta thấy và cảm nhận năng quyền của tình yêu và niềm tin nơi Chúa, Đức Chúa Trời siêu việt tối cao!
Lời Chúa phán:
“Phước cho người nào kính sợ Chúa và sống theo đường lối Ngài. Ngươi sẽ được hưởng công lao của tay mình; Ngươi sẽ được phước lành và thịnh vượng. Vợ ngươi sẽ như cây nho nhiều trái trong nhà ngươi; Con cái ngươi sẽ như các chồi cây ô-liu chung quanh bàn ngươi. Kìa, người nào kính sợ Chúa sẽ được phước như thế. Nguyện Chúa từ Si-ôn ban phước cho ngươi. Nguyện ngươi sẽ thấy sự thịnh vượng của Giê-ru-sa-lem suốt đời mình. Nguyện ngươi được thấy con cháu của con cháu mình. Nguyện sự bình an giáng trên I-sơ-ra-en” (Thi Thiên 128).
Cầu xin Chúa Thánh Linh đặt lòng kính sợ Chúa, Đức Chúa Trời trong linh hồn của mỗi chúng con để chúng con biết thi hành sự chính trực, yêu mến sự thương xót và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời, hạ mình thuận phục ý chỉ thánh của Ngài, sống vì vinh quang Chúa bất cứ giá nào khi còn sống trên đất! (Mi 6:8).
Kính lạy Chúa Giê-su dấu yêu, xin Ngài đến! Xin Chúa nhớ đến chúng con khi Ngài quang lâm, và đem chúng con về ở với Ngài trên Thiên đàng, vương quốc đời đời của Ngài! Amen.
MSTS Christian Le